default orange

Chi tiết tin

Giới thiệu "Hô Hát Bài Chòi" tại thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam

Người đăng: Admin VHTT Ngày đăng: 2:16 | 18/04 Lượt xem: 37414

Nhằm sưu tầm, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam trong sinh hoạt văn hóa, Trung tâm VHTT thành phố Tam Kỳ đã sưu tầm những làn điệu dân ca bài chòi của các tác giả Nguyễn Kiểm, Nguyễn Đốc, Trần Hồng, Đinh Thị Hải, Trịnh Văn Kỳ phổ biến rộng rãi đến các xã, phường thuộc thành phố để phục vụ các lễ hội của địa phương, phong trào VH-VN cơ sở, các tour du lịch.v.v.. Trung tâm VHTT thành phố Tam Kỳ xin trân trọng giới thiệu đôi nét về Hô hát bài chòi và trích dẫn nội dung câu hô hát bài chòi, về thể thức cuộc chơi, cách tổ chức và những làn điệu dân ca bài chòi để phục vụ đông đảo các tầng lớp nhân dân tham khảo cũng như tổ chức vui chơi hô hát bài chòi.


I. KHÁI QUÁT CHUNG:
Bài chòi là một loại hình dân ca và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Trung Trung bộ từ những năm trước Cách mạng tháng Tám (1945), về sau đã được phát triển thành một loại hình sân khấu ca kịch vào những năm 30 của thế kỷ 20. Cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, khắp miền quê, hội bài chòi được tổ chức trong khoảng thời gian dựng nêu (từ 30 tháng chạp đến mồng 7 Tết). Đôi khi cuộc chơi kéo dài đến rằm tháng giêng âm lịch (từ Tết Nguyên Đán đến Tết Thượng Nguyên).
Hô Bài Chòi là một bộ môn văn hóa dân gian lâu đời, phát triển và dính liền cùng với những thăng trầm của lịch sử. Người dân miền Trung bắt đầu từ Quảng Bình, đi dần vào miền sông Hương núi Ngự kéo dài mãi tận Phan Thiết. Đi đến đâu loại hình văn hóa này đều được công chúng hồn nhiên tham gia và được nâng cao qua tài năng ứng đối của nhiều đời nghệ nhân qua vai trò của anh Hiệu (người hô bài hát). Theo nhiều nhà nghiên cứu, chính từ trò chơi bài chòi mà ca kịch bài chòi ra đời. Đầu tiên các nghệ nhân ngồi trên chiếu trải dưới đất còn người nghe đứng xung quanh, nhưng về sau các nghệ nhân ngồi trên một giàn gỗ dựng cao (nên người trong giới thường nói rằng bài chòi đã từ đất lên giàn “Bài bản và làn điệu của ca kịch bài chòi gồm: các điệu hát ru, điệu lý thương nhau, lý tang tình, khoan hỡi hò khoan (Quảng Nam - Đà Nẵng), nói lía, chèo thuyền (Quảng Trị), hò mái nhì (Thừa Thiên). Lời hát là những bài thơ bốn chữ theo điệu vè và nhiều nhất là thơ lục bát, không có nét nhạc cố định mà tùy theo thanh giọng của câu thơ. Có ba điệu chánh là Xuân Nữ, Nam Xuân (hay cổ bản, gần hơi bắc của nhạc tài tử) và xàng xê (gần với hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc tài tử).
    Đánh bài chòi là một trò chơi dân gian giải trí mang tính chất văn chương bình dân. Người ta đánh bài chòi để thử thời vận hên xui dịp đầu năm, chứ không tính ăn thua đỏ đen. Dần dần, bài chòi đã phát triển đi lên thành một nghệ thuật quần chúng. Từ một nghệ nhân ban đầu là “Anh Hiệu” đóng đủ mọi vai khi bài chòi có tính cách tự sự, về sau xuất hiện nhiều nghệ nhân và hình thành một sân khấu hẳn hoi như sân khấu tuồng truyền thống. Những làn điệu dân ca đã tiến xa với những tuồng tích hoàn chỉnh như: Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sanh – Lý Thông.
Về tiết tấu, chỉ có nhịp đôi đều đặn hay nhịp ba bỏ một nhịp, nhưng cũng có thể biến tấu. Nhạc cụ phụ họa lúc đầu chỉ có đàn nhị và sanh sứa (là hai mảnh tre chuốt nhọn hai đầu cầm trong một tay, âm thanh chạm vào nhau nghe như tiếng ve kêu), sau thêm đàn nguyệt, ống sáo và song tiền. Động tác trên sân khấu áp dụng các điệu múa sắc bùa, lục cúng, bát dạo. Ngôn ngữ bình dân trong hô bài chòi có thể bày tỏ tình cảm trai gái lứa đôi, ve vãn, phê phán những thói hư tật xấu, nói chuyện thời tiết mùa màng, chuyện chính sự, phụ sự... Bài chòi còn cả gan “sờ tận gáy” các quan phụ mẫu thời xưa... nghĩa là nó không tha bất kỳ việc gì trên đời này. Trong khi đó, tại các sân hò (hò khoan, hò giã gạo, hò kéo vải...) chỉ thấy một kiểu thức huê tình, phong tình mà thôi.
Điểm độc đáo của ca kịch bài chòi là một diễn viên có thể thủ một lúc nhiều vai, cùng với vài nhạc cụ thô sơ phụ họa mà đủ sức lôi cuốn khán thính giả thích thú theo dõi (Cách biểu diễn này ở châu Á chỉ có thể loại Pansori của Triều Tiên với một diễn viên thủ nhiều vai cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ, được sự phụ họa của một trống puk.


        


Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của miền Trung nói chung, Quảng Nam nói riêng. Bài chòi được phổ biến và là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân lao động. Vào mỗi dịp lễ Tết, ở vùng nông thôn rất phổ biến trò chơi này. Bài chòi có hình thức chơi tương tự như chơi lô tô với 32 tấm thẻ bài và không gian chơi diễn ra trong chín chiếc chòi làm bằng tre lợp tranh thường được tổ chức vào ngày mồng 1 Tết đến ngày khai hạ mồng 7. Ban đầu, trò chơi chỉ mang tính chất gia đình, về sau cứ mỗi độ xuân về, người ta dựng những chòi cao trên bãi đất trống thu hút khách thập phương đến tham gia…. Hiện nay ở Quảng Nam, bài chòi không chỉ gói gọn trong những ngày đầu xuân mà còn kéo dài cả tháng giêng trong các lễ hội truyền thống lớn nhỏ. Có thể nói hô hát bài chòi đầu xuân là một trong những nét văn hóa truyền thống dân gian độc đáo, riêng biệt và mang tính đặc trưng của vùng đất và con người xứ Quảng.
Trò chơi bắt đầu khi anh Hiệu (mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề) cất tiếng hò một bài lục bát hoặc song thất lục bát bằng chất giọng rặt phương ngữ tiếng Quảng

Nam không lẫn vào đâu được:
 Gió xuân phảng phất nhành tre
Xin mời bà con cô bác lắng nghe bài chòi
Bà con cô bác lắng lặng mà nghe
Tui hô cái quân bài, con gì nó ra đây...
Nực cười chị bán thịt heo
Hai vai gánh nặng lại đèo móc cân
                        Con bài “Tứ Móc”
Hoặc:  Một hai bậu nói rằng không
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người
                        Con bài “Tứ Cẳng”


Từ những con bài ngắn gọn dần dần được đặt những con bài có câu dài hơn:


Một anh để em ra
Hai anh để em ra
Về em buôn em bán
Trả nợ bánh tráng, trả nợ bánh xèo
Còn dư trả nợ thịt heo
Anh đừng lầm em nữa, kẻo mang nghèo vì em
Con bài “Nhì Nghèo”
Hoặc:  Ngồi buồn nghĩ chuyện đời nay
Trai tài gái sắc sao tày ngày xưa
Đời nay ăn sớm ngủ trưa
Ngồi lê đôi mách bỏ thưa việc nhà
Con bài “Bảy Thưa”


    Cuộc chơi bài chòi có sinh động có rôm rả hay không còn phụ thuộc vào tài hô hát của anh Hiệu, anh hiệu phải thuộc hàng trăm bài thơ, bài vè, hàng ngàn câu ca dao; phải biết hát nam, hát khách những làn điệu dân ca đặc trưng của những vùng miền xứ Quảng. Trong câu hát của anh Hiệu, có thể bắt gặp được những lời tự sự về nhân tình thế thái, về niềm vui trong cuộc sống, bình yên trong lao động và những sinh hoạt hàng ngày, ca ngợi tình làng nghĩa xóm, cách đối nhân xử thế... hay phê phán những thói hư tật xấu ở đời:


Làm thân con gái lẳng lơ
Ngủ trưa đứng buổi dậy đo mặt trời
Quần áo thì rách tả tơi
Lấy rơm mà túm mỗi nơi một đùm, đó là con bài Ngủ trưa
 Cu tôi ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị, chị đè cu tui. Đó là con bài Chín cu
    Có những câu hát của anh Hiệu làm cho cả hội bài chòi cười nghiêng cười ngã bởi tính hài hước, vui nhộn, ý nghĩa sâu xa, tuy lời tục nhưng thanh, rất gần gũi dân dã với đời thường:
Tối qua tôi đi ra gò
Thấy anh thương chị bốn cái giò tréo ngoe, đó là con Tứ cẳng
Hay:     Lấy chồng từ thuở mười ba
Chồng chê em bé không nằm với em
Đến khi mười tám đôi mươi
Em nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Lên giường anh nói anh thương
Một anh thương, hai anh thương, ba anh thương
Anh thương em chi hung rứa
Cho bốn cái cẳng giường nó rung rinh. Đó là con bài Tứ cẳng


Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên trò chơi dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và xem; đông nhất là những người già, phụ nữ và trẻ em. Họ đắm mình trong những làn điệu dân ca quen thuộc, thả hồn theo những câu hò, điệu hát mộc mạc, dân dã; Đồng thời cũng muốn tìm được sự may mắn đầu năm. Cái thú vị của trò chơi bài chòi không những mang tính bài bạc đơn thuần mà ý nghĩa của nó còn vươn xa hơn loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian: là nơi trổ tài vừa biểu diễn, vừa hát hò, đối đáp; là nơi gặp gỡ của bà con làng trên xóm dưới... và còn đặc biệt vào dịp đầu xuân đây còn là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, tìm hiểu, trao duyên.


 


       
    II. THỂ THỨC CUỘC CHƠI:
Một hội bài chòi, ngoài số người đến đánh bài và thân nhân của họ, còn có số người đến xem, có thể lên đến vài trăm người. Một đám hát trống, người xem thường có mặt từ lúc dạo tuồng đến khi vãn tuồng. Nhưng ở bài chòi, người xem có thể đến rồi ra về bất cứ lúc nào tùy thích và không có lệ bán vé vào xem.

 




Muốn đánh bài chòi người ta phải báo cho ban tổ chức biết để sắp xếp ở hội kế tiếp. Người đến xem không cần xin phép ai cả, cứ chen vào đứng dọc theo các chòi và rạp, làm thành một vòng bao quanh sân khấu. Mỗi ngày cuộc chơi kéo dài từ sáng tới khuya. Giờ ăn chỉ nghỉ ngơi chốc lát. Ở đám bài chòi, lúc nào cũng có tiếng kèn trống, âm thanh rộn rã vang xa, lôi cuốn thúc dục:
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Ðể cho con khóc đến lòi rún (rốn) ra
Trống chầu một hồi ba tiếng trống lên, dàn nhạc tiếp theo phụ họa, cuộc chơi bắt đầu. Những người tham gia leo ngồi trên chòi, do ban tổ chức sắp xếp. Người đánh bài có thể rủ bạn bè, thân nhân hay người tình lên ngồi trong chòi của mình. Ban Hiệu ra sân, thường thì một nam một nữ, nếu thêm một người nữa để thay bài thì càng tốt. Hiệu hô bài mặc áo dài đen, đội khăn đóng, thắt dây lưng đỏ, mặt đánh phấn thoa son, có khi hóa trang như là đào kép hát bội. Hiệu bưng khay đến từng chòi thu tiền và phát bài. Người ngồi trên chòi nhận bài, đem găm ở khúc chuối hay bó rơm để sẵn trên chòi. Phát bài xong, Hiệu đến trước rạp vái chào ban tổ chức rồi hô lớn: "Phát bài đã đủ cho Hiệu tính tiền". Người điều khiển cho cuộc chơi đáp lại bằng ba tiếng trống chầu. Hiệu cúi đầu: Dạ!
Trống lệnh đã cho phép, Hiệu hai tay ôm lấy ống đựng thẻ lắc mạnh nhiều lần. Khi các con bài đã trộn lẫn vào nhau, Hiệu với tay rút một con bài. Mọi người hồi hộp chờ đợi tên con bài đang nằm trong tay Hiệu. Lúc ấy tiếng trống chầu thúc liên hồi, dàn nhạc cũng dồn dập tưng bừng, kích thích lòng mong đợi của mọi người. Nhưng Hiệu chưa vội đọc tên con bài. Anh ta múa may, vái chào mọi người rồi mới cất giọng hô điệu bài chòi bằng hai câu thơ hay cả bài lục bát tùy thích. Có điều câu cuối bao giờ cũng có chữ chỉ định tên con bài vừa mới rút được. Chẳng hạn tên con bài là Ngũ Trượt thì hô:
Trời mưa làm ướt sân đình
Anh đi cho khéo trợt ình xuống đây
Trợt quơi (ơi), Ngũ Trợt!
Tức thì chòi có bài trùng với con bài ấy đáp lại bằng ba tiếng mõ "cốc, cốc, cốc!". Nếu là chòi trung ương trúng thì đánh ba tiếng trống "tum tum tum!". Hiệu trao thẻ bài cho người chạy bài đem đến chòi trúng. Con bài ấy được găm vào khúc chuối cây hay bó rơm trên chòi. Hiệu lại tiếp tục lắc ống rồi rút con bài khác. Và cũng theo thủ tục hô bài như đã nói trên. Ban đầu trong ống có 27 thẻ bài, nhưng bớt dần theo mỗi lần rút thẻ cho đến khi có một chòi nào trúng được ba lần, tức là bài đã tới thì mới chấm dứt ván bài. Khi Hiệu hô xong con bài, nếu có chòi trúng lần thứ ba thì báo hiệu bài tới bằng một hồi mõ dài (chòi trung ương thì báo một hồi trống tum). Lúc ấy, ở rạp ban tổ chức, một hồi trống chầu được gióng lên, báo hiệu xong một ván bài.

 


III. CÁCH TỔ CHỨC:
Một gánh bài chòi có ban hô bài gồm một Hiệu chính và một hoặc hai Hiệu phụ, trong đó có đủ nam nữ thì diễn xuất mới linh hoạt. Ban nhạc thường chỉ gồm bốn người: một đàn cò, một kèn, một sanh, một trống chiến (nhỏ hơn trống chầu và lớn hơn trống tum, có dây mang trước ngực khi di chuyển).

 


           
       Hát bài chòi là thể loại hát đối đáp dân gian của người dân xứ Quảng giữa nam và nữ.                                                                 

1. Hội Bài Chòi


Nơi tổ chức bài chòi thường ở sân đình, sân chùa hay sân chợ. Nói chung, nơi có khoảng đất trống bằng phẳng. Người ta cất 9 chòi, xếp chung quanh hình chữ nhật, mặt quay vào sân chơi. Tám chòi nằm dọc theo hai cạnh hình chữ nhật, mỗi bên bốn chòi, đối diện tương ứng nhau từng cặp một. Chòi trung ương ở giữa cạnh nắn hình chữ nhật. Cạnh bên kia, đối diện với chòi trung ương, là rạp hội đồng, dành cho ban tổ chức. Khoảng đất trống ở giữa là sân khấu trệt, có bốn mặt dành cho Hiệu; Rạp và các chòi đều quay mặt vào sân này. Chòi được cất theo kiểu nhà sàn, trang hoàng đẹp đẽ, nền sàn cao quá đầu người, có thang lên xuống. Mái chòi lợp tranh hay lá dừa để che mưa nắng. Mặt sau và hai hông chòi che kín, chỉ chừa trống mặt trước. Mỗi chòi chứa được 4 hoặc 5 người. Trong chòi có một cái mõ và một khúc thân cây chuối hay bó rơm để người chơi găm con bài và cờ đuôi nheo. Chòi trung ương, lớn hơn cái chòi thường một ít, dùng trống thay mõ và dành riêng cho các vị có chức tước hay có uy tín trong làng muốn tham gia cuộc chơi, cũng có thể dành cho cặp vợ chồng mới cưới. Những khi không có khách đặc biệt thì người dân thường vẫn có thể ngồi chòi này.


 


         
Rạp ban tổ chức cũng có mái che mưa nắng, trang hoàng đẹp đẽ hơn. Các cột được bó lá ngâu hay lá đùng đình để tăng thêm vẻ trang trọng. Trong rạp kê một bộ phản ngựa rộng dành cho các hương chức và quan khách có địa vị ngồi. Ðầu phản đặt một cái trống chầu dùng làm trống lệnh để ban tổ chức điều khiển cuộc chơi. Bên cạnh bộ phản có đặt hàng ghế cho ban nhạc của gánh bài chòi ngồi hòa âm.

        



2. Bộ Bài Chòi
Trong sân, trước rạp, chỗ Hiệu đứng hô bài, có đặt ống đựng bài. Ống bài là một khúc tre lớn, rỗng ruột, cắm lỏng trên một cái cột cố định để ống bài có thể lúc lắc được. Trong ống đựng 27 thẻ bài. Ðầu nằm trong ống, chân thẻ nhô ra ngoài và đặt cao quá tầm mắt.
Con bài làm bằng tre, đầu trên bè ra để dán lá bài lấy trong bộ bài tới. Ðầu dưới là chân thẻ nhỏ tròn như chiếc đũa, vót nhọn. Các chân bài nhuộm nửa xanh nửa đỏ, giống hệt nhau để không phân biệt được.
Bộ thẻ bài chòi gồm 27 cặp, có tên như sau:
- Pho VĂN: Nhất Gối, Nhì Bánh, Ba Bụng, Tứ Tượng, Ngũ Rốn, Sáu Xưởng, Bảy Liễu, Tám Miểng, Chín Cu.
- Pho VẠN: Nhất Trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Ghế, Ngũ Trượt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa.
- Pho SÁCH: Nhất Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Xách, Ngũ Dụm, Sáu Hường, Bảy Thưa, Tám Dây và Cửu Ðiều.  
Trên mỗi con bài không ghi tên con bài, chỉ vẽ hình như kiểu siêu thực, bằng mực đen, làm ký hiệu riêng cho mỗi con bài. Ðôi khi người ta rút 3 cặp bài bất kỳ, mỗi pho rút một cặp, thế vào đó 3 cặp Yêu, màu đỏ, có tên là Lão, Thang, Chi. Nếu Lão thì gọi Ông Ầm, Thang gọi là Thái Tử và Chi gọi là Bạch Huê. Miễn sao bộ thẻ bài chòi vẫn giữ y số ấn định là 27 cặp, chia đều mỗi pho 9 cặp. Ngoài 27 thẻ bài bỏ vào ống, còn 27 con bài cũng y như vậy, đem dán vào thẻ lớn. Cứ 3 con bất kỳ dán chung vào một thẻ. Có 9 thẻ phát mỗi chòi một thẻ, nên thẻ lớn còn gọi là thẻ chòi. Cũng có nơi không dán chung 3 con bài vào một thẻ lớn mà vẫn dùng 27 thẻ nhỏ, y như 27 thẻ bài đã dùng trong ống để phân phát cho 9 chòi, mỗi chòi 3 thẻ bài. Như vậy, cả hai cách, mỗi bộ bài chòi phải có 27 cặp như đã kể trên, chia làm hai phần y nhau về số lượng và tên con bài. Một phần bỏ vào ống bài để cho Hiệu bốc thăm, một phần đem phân phát cho 9 chòi.

           
Tấm thẻ bài vẽ hình siêu thực                                       Sau mỗi làn điệu hát đối đáp thì con bài được hiện lên
và chú lính lại treo con bài lên giữa cuộc chơi người chơi biết đến

Trong bài chòi, tên con bài đôi khi được gọi khác. Như trong pho Văn: Nhất Gối thì gọi là Chín Gối, Nhì Bánh tức là Hai Bánh rồi đảo ngược gọi là Bánh Hai, Ngũ Rốn gọi trại Ngũ Rún hay gọi khác là Ngũ Ruột, Tám Miểng gọi trại là Tám Miếu. Trong pho VẠN: Tứ Ghế còn gọi là Tứ Móc hoặc Tứ Cẳng, Ngũ Trượt là Ngũ Trật hay Ngũ Trợt, Lục Trạng gọi là Lục Chạng. Trong pho SÁCH: Tứ Sách gọi là Tứ Gióng, Ngũ Dụm thành Ngũ Dít, Bảy Thưa là Bảy Hột.
            
Có thể hiểu nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn phát các loại thẻ

Hiệu bưng khay tiền và một lá cờ đuôi nheo đến tận chòi có bài tới. Cờ đuôi nheo còn gọi là cờ hiệu, có hình tam giác vuông, màu đỏ bằng giấy. Trên cờ viết số thứ tự ván bài, từ đệ nhất, đệ nhị đến đệ bát. Hiệu đứng trước chòi có bài tới trịnh trọng thưa: Vâng lệnh làng lãnh lấy khay tiền. Hiệu (tui) khẩn cấp điện cờ Ðệ nhất. Theo lệ, chòi có bài tới, muốn lịch sự phải thưởng tiền cho Hiệu, nhiều ít là do tài diễn xuất của Hiệu. Vì thế, khi dâng khay tiền, Hiệu phải trổ tài múa những động tác đẹp mắt, miệng thì ngâm thơ, hát Nam, hát Khách. Nếu gặp người tới có máu văn nghệ, hỏi đố bằng thơ, Hiệu cũng phải biết đáp bằng thơ. Chẳng hạn như câu hỏi đố:


Cái gì có trái không hoa?
Cái gì không rễ cho ta tìm tòi?
Cái gì vừa thơm vừa tho?
Kẻ yêu người chuộng, kẻ dò tình nhân?
Cái gì mà chẳng có chân?
Cái gì không vú xây vần lắm con?
Cái gì vừa trơn vừa tròn,
Mười hai tháng chẵn không mòn chút nao?
Cái gì mà ở trên cao?
Làm mưa làm gió làm sao được vầy?
Cái gì mà ở trên cây?
Trèo lên tụt xuống khen ai là tài?
Cái gì chỉ có một tai?
Cái gì một mặt cái gì ngẳng lưng?
Cái gì anh gảy từng tưng...
Nếu không lanh trí, có tài ứng đối, thuộc nhiều ca dao, câu đố... Hiệu khó mà vượt qua nổi. Hiệu nhanh nhẩu đáp ngay:
Cây súng có trái không hoa
Tơ hồng không rễ cho ta tìm tòi
Quế ăn vừa thơm vừa tho
Kẻ yêu người chuộng, kẻ dò tình nhân
Cái ốc ma không có chân
Con gà không vú xây vần lắm con
Sợi chỉ vừa trơn vừa tròn
Mười hai tháng chẵn chẳng mòn chút nao
Ông trời mà ở trên cao
Làm mưa làm gió làm sao được vầy
Con vượn mà ở trên cây
Trèo lên trợt xuống khen ai là tài
Cối xay đậu có một tai
Trống mảng một mặt, mâm bồng ngẳng lưng
Ðàn bầu anh gảy từng tưng...


Hiệu vừa đáp xong, người chủ chòi trúng khoái quá, đổ cả khay tiền xuống thưởng. Các chòi thua cuộc, chẳng buồn việc ăn thua, vẫn ném tiền xuống thưởng tài nghệ của Hiệu, người đứng xem cũng hùa theo, vãi tiền vào sân như bươm bướm lượn. Màn thưởng thức xem chừng đã mãn. Trống chầu của ban tổ chức vang lên một hồi ba tiếng, báo hiệu cuộc chơi cho ván kế tiếp. Người chạy bài đi thu con bài ở các chòi đem bỏ vào ống thăm chuẩn bị. Người xem chỉ cần nhìn cây cờ đuôi nheo cắm ở chòi trúng có đề số thứ tự thì biết hội bài này đã chơi đến ván thứ mấy.             


Thời gian cho một ván bài không chừng, tùy sự may rủi của việc bốc bài. Nhanh nhất, bốc ba lần đã thấy bài tới. Còn chậm nhất phải bốc đến lần thứ 19. Ngoài ra còn tùy thuộc vào việc hô bài của Hiệu. Nếu hô những bài dài thì chiếm nhiều thời gian. Vì vậy, Hiệu thường hô những câu thai chỉ có hai hoặc bốn câu lục bát. Thỉnh thoảng mới chen một bài dài hoặc bài có tính hài hước để thay đổi không khí, tránh sự nhàm chán. Chẳng hạn như câu thai của con bài Bạch Huê chọc cười dưới đây:


Con vợ tui tốt tựa tiên sa
Coi trong thiên hạ ai mà dám beng (bì, sánh)
Lưng khòm rồi lại da đen
Còn hai con mắt tựa khoen trống chầu
Giò cao đít lớn to đầu
Lại thêm cái mặt cô sầu bắt ghê
Việc làm trăm việc tui chê
Chỉ thương có chút ....................
Những câu thai thường có sẵn, Hiệu phải thuộc lòng hàng trăm câu. Cũng có khi Hiệu phải sáng tác hoặc chắp nối, ráp câu nọ với câu kia, miễn sao câu thai nói lên được tên con bài Hiệu vừa mới bốc. Ðể tăng sự hấp dẫn, khi hô Hiệu phải diễn tả bằng điệu bộ, nét mặt, giọng nói như một diễn viên hát bội rành nghề. Nội dung câu thai cũng luôn thay đổi. Chẳng hạn ván thứ nhất, gặp con bài Nhì Nghèo, Hiệu hô:
Chắp tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo chẳng cưới được em!
Ván thứ hai, nếu gặp lại con bài đó, Hiệu hô câu thai có nội dung khác:
Cây khô tưới nước cũng khô
Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo
Ván thứ ba Hiệu đổi khác:
Nhiều quan thêm khổ thằng dân
Nhiều giàu thì lại chết trân thằng nghèo
Ván thứ tư lại khác:
Thấy anh em cũng muốn theo
Chỉ sợ anh nghèo anh bán em đi
Ván thứ năm khác nữa:
Buồn từ trong dạ buồn ra
Buồn anh ở bạc, buồn cha mẹ nghèo
Ván thứ sáu, vẫn còn nhiều câu khác nữa:
 Ngày thường thiếu áo thiếu cơm
Ðêm nằm không ch

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Chính phủ điện tử











TRANG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN THÀNH PHỐ TAM KỲ
ĐỊA CHỈ: 159 TRƯNG NỮ VƯƠNG - THÀNH PHỐ TAM KỲ - QUẢNG NAM
Email: vhttttamky.quangnam.@gov.vn - Điện thoại: 02353. 851.208
Quản lý nội dung: Ông Nguyễn Hữu Đắc - Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin. Quản trị và thiết kế: Ông Thái Viết Cam - Chuyên viên
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập

000036008